Chỉ định
Điều trị viêm loét đại tràng (trong giai đoạn hoạt động cũng như điều trị duy trì); Điều trị bệnh Crohn thể hoạt động
Điều trị viêm khớp dạng thấp trong trường hợp người bệnh không đáp ứng với thuốc chống viêm non-steroid (NSAIDs).
Dược lực học
Sulfasalazin là hợp chất của sulfapyridin và acid 5-aminosalicylic. Sulfasalazin được coi là một tiền dược, do sau khi uống, liên kết diazo bị phân cắt tạo thành sulfapyridin và acid 5-aminosalicylic có tác dụng kháng khuẩn và chống viêm tại chỗ, với hiệu quả ở ruột do các chất chuyển hóa tại đại tràng mang lại. Thuốc còn có thể làm thay đổi hệ vi khuẩn chí đường ruột, ức chế tổng hợp prostaglandin và tác động đến miễn dịch hay vận chuyển chất nhầy. Sulfasalazin được dùng trong điều trị viêm loét đại tràng, bệnh Crohn và viêm khớp dạng thấp (làm thuốc DMARD), nhưng không khuyến cáo cho viêm khớp dạng thiếu niên do nguy cơ phản ứng có hại nghiêm trọng.
Dược động học
Hấp thu: Sau khi uống, khoảng 10-15% liều sulfasalazin được hấp thu dưới dạng thuốc không chuyển hóa từ ruột non. Một tỷ lệ nhỏ sulfasalazin hấp thu được bài tiết qua mật vào ruột (tuần hoàn ruột-gan). Phần còn lại của liều uống sulfasalzin chuyên nguyên vẹn vào đại tràng, ở đây, liên kết diazo bị vi khuẩn chí ở đại tràng phân cắt thành sulfapyridin và mesalamin. Sulfapyridin được hấp thu nhanh ở đại tràng. Chỉ một lượng nhỏ mesalamin bị hấp thu ở đại tràng. Ở người cắt đại tràng cho thấy 60-90% tổng liều được chuyển hóa theo cách này, nhưng mức độ chuyển hóa phụ thuộc vào cả hai hoạt tính của hệ vi khuẩn chí ở ruột và tốc độ chuyên vận của thuốc. Sự chuyển hóa thuốc ở đại tràng bị giảm ở người bị tiêu chảy (như trong bệnh viêm ruột hoạt động) Sau khi uống 1 liều đợn 2g sulfasalazin ở người khỏe mạnh, nồng độ đinh sulfasalazin huyết tương đạt 14 microgam/ml trong vòng 1,5-6 giờ. Nồng độ đỉnh sulfapyridin huyết tương đạt 21 microgam/ml trong 6-24 giờ.
Sau khi uống 1 liều đơn 2g sulfasalazin giải phóng chậm, nồng độ đỉnh sulfasalazin huyết tương đạt 6 microgam/ml trong vòng 3-12 giờ. Nồng độ đỉnh sulfapyridin huyết tương đạt 13 microgam/ml trong vòng 12-24 giờ. СПАСИ
Phân bố: Một lượng nhỏ sulfasalazin được hấp thụ gắn mạnh vào protein huyết tương và cuối cùng thải trừ không chuyên hóa vào nước tiểu. Thuốc qua nhau thai và tìm thấy trong sữa mẹ.
Thải trừ: Nửa đời trung bình sulfasalazin huyết thanh là là 5,7 giờ sau 1 liều đơn và 7,6 giờ sau nhiều liều. Nửa đời sulfapyridin 8,4 giờ sau 1 liều đơn và 10,4 giờ sau nhiều liều.
Sau khi phân tử sulfasalazin bị bẻ gãy ở đại tràng, 60-80% sulfapyridin được hấp thu và chuyển hóa mạnh ở gan nhờ acetyl hóa, hydroxyl hóa và liên hợp với acid glucuronic. Nồng độ đỉnh ở giai đoạn ổn định của sulfapyridin cao hơn ở người acetyl hóa chậm so với người acetyl hóa nhanh khi uống 1 liều tương tự. Người chuyển hóa chậm có ADR gấp 2-3 lần. Khoảng 60% liều gốc sulfasalazin bài tiết vào nước tiểu dưới dạng sulfapyridin và các chất chuyển hóa. Cũng như sulfasalazin, sulfapyridin hấp thu qua nhau thai và vào sữa,
Mesalamin được hấp thụ ít hơn nhiều, khoảng 1/3 mesalamin giải phóng được hấp thu và hầu hết được acetyl hóa và bài tiết vào nước tiểu.