Chỉ định
Thuốc được chỉ định để giảm triệu chứng cấp tính của cơn đau thắt ngực hoặc dự phòng cơn đau thắt ngực cấp tính do bệnh động mạch vành.
Dược lực học
Cơ chế tác dụng:
Glyceryl trinitrat là một nitrat hữu cơ, khi vào trong cơ thể được chuyển hoá thành gốc oxyd nitric (NO) nhờ glutathion-S-reductase và cystein; NO kết hợp với nhóm thiol thành nitrosothiol (R-SNO), chất này hoạt hoá guanylat cyclase để chuyển guanosin triphosphat (GTP), thành guanosin 3'5' monophosphat vòng (GMPc). GMPc làm cho myosin trong các sợi cơ thành mạch không được hoạt hoá, không có khả năng kết hợp với actin nên làm giãn mạch.
Thuốc tác động chủ yếu trên hệ tĩnh mạch, với liều cao làm giãn các động mạch và tiểu động mạch. Giãn hệ tĩnh mạch làm cho ứ đọng máu ở ngoại vi và trong các phủ tạng, giảm lượng máu về tim (giảm tiền gánh), hậu quả là làm giảm áp lực trong các buồng tim. Giãn nhẹ các tiểu động mạch dẫn đến giảm sức cản ngoại vi và áp lực thất trái trong thời gian tâm thu hậu quả là làm giảm nhu cầu oxygen trong cơ tim (giảm hậu gánh). Liều cao làm giảm huyết áp nhất là huyết áp tâm thu tuy không nhiều nhưng có thể gây giảm phản xạ giao cảm làm mạch hơi nhanh và tăng sức co bóp cơ tim. Các nitrat còn có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu.
Trong suy vành, giảm tiền gánh, giảm hậu gánh sẽ làm giảm công và mức tiêu thụ oxygen của cơ tim, cung và cầu oxygen của cơ tim được cân bằng sẽ nhanh chóng cắt cơn đau thắt ngực. Thuốc cũng làm giãn động mạch vành, làm mất co thắt mạch, dùng lâu dài còn có tác dụng phân bố lại máu có lợi cho các vùng dưới nội tâm mạc và làm phát triển tuần hoàn bàng hệ.
Trong suy tim, glyceryl trinitrat làm giảm về tim đã cải thiện tiền gánh, làm giảm áp lực thất phải và áp lực tuần hoàn phổi như vậy làm giảm các dấu hiệu ứ máu, với liều thích hợp thuốc lại làm giảm hậu gánh, tạo điều kiện cho tim tống máu tốt hơn, tăng thể tích tâm thu và cung lượng tim.
Dược động học
Hấp thu
Glyceryl trinitrat đặt dưới lưỡi hấp thu nhanh chóng, mang lại tác dụng giãn mạch giảm đau thắt ngực sau 1 - 3 phút, đạt tối đa ở phút thứ 5 và duy trì ít nhất 25 phút. Nồng độ đỉnh trong máu đạt trung bình sau 6 - 7 phút. Các chỉ số \(\text{C}_{\text{max}}\) và AUC tăng theo liều (0,3mg - 0,6mg), với sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 40% nhưng dễ biến đổi tùy thuộc vào độ ẩm dưới lưỡi và trao đổi chất qua niêm mạc.
Bảng 1 trình bày các thông số dược động học trung bình (độ lệch chuẩn - SD) của glyceryl trinitrat khi đặt dưới lưỡi theo hai cách phân liều là 2 x 0,3 mg và 1 x 0,6 mg.
- Về nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax), liều đặt dưới lưỡi 2 x 0,3 mg đạt 2,3 (1,7) ng/ml, trong khi liều 1 x 0,6 mg đạt 2,1 (1,5) ng/ml.
- Thời gian đạt nồng độ tối đa (Tmax) tương ứng của hai liều lần lượt là 6,4 (2,5) phút và 7,2 (3,2) phút.
- Diện tích dưới đường cong (AUC (0–∞)) ở cả hai cách phân liều đều ghi nhận giá trị trung bình bằng nhau là 14,9 (phút), với chỉ số SD lần lượt là (8,2) và (11,4).
- Cuối cùng, thời gian bán thải (t1/2) của liều 2 x 0,3 mg là 2,8 (1,1) phút, so với liều 1 x 0,6 mg là 2,6 (0,6) phút.
Phân bố
Thể tích phân bố ( V _Area) của glyceryl trinitrat tiêm tĩnh mạch là 3,3 l/kg. Liên kết với protein huyết tương ở nồng độ 50–500 ng/ml là khoảng 60% đối với glyceryl trinitrat và 1,2-dinitroglycerin, và 30% đối với 1,3-dinitroglycerin.
Chuyển hóa
Men khử gan đóng vai trò chính chuyển hóa glyceryl trinitrat thành glycerol di- mononitrat, glycerol và nitrat hữu cơ. Huyết tương chứa glyceryl trinitrat cùng hai chất chuyển hóa chính là 1,2- và 1,3-dinitroglycerin (nồng độ đỉnh đạt được sau khoảng 15 phút). Thời gian bán thải lần lượt là 36 phút (1,2-dinitroglycerin) và 32 phút (1,3-dinitroglycerin), với hoạt tính dược lý tương ứng khoảng 2% và 10% so với chất mẹ. Nhờ nồng độ huyết tương cao và thời gian bán thải dài hơn gần 10 lần, các chất chuyển hóa dinitro có thể góp phần đáng kể vào tác dụng dược lý. Glycerol mononitrat không có hoạt tính sinh học.
Thải trừ:
Nồng độ glyceryl trinitrat trong huyết tương giảm nhanh với thời gian bán thải trung bình 2–3 phút (dao động 1,5–7,5 phút). Độ thanh thải (13,6 l/phút) vượt lưu lượng máu qua gan, cho thấy chuyển hóa là con đường thải trừ chính của thuốc.